Khóa luận tốt nghiệp về thực trạng thi hành luật bình đẳng giới ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay chuyên ngành tư pháp và dân sự  (Bấm vào liên kết phía dưới để tải xuống)

Đây là Khóa luận tốt nghiệp về thực trạng thi hành luật bình đẳng giới ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay chuyên ngành tư pháp và dân sự. Do nhóm sinh viên trường đại học khoa học Đại học Huế thực hiện. Mời các bạn tải về tham khảo nhé.

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

 

1.1. Những khái niệm cơ bản về bình đẳng giới

1.1.1. Khái niệm giới và đặc điểm của giới

Thuật ngữ “giới”, theo tiếng Anh là “gender” là một thuật ngữ thường được sử dụng trong lĩnh vực xã hội học. Thuật ngữ này mới được du nhập vào Việt Nam khoảng 20 năm trở lại đây và được thể hiện theo nhiều cách khác nhau. Theo từ điển Tiếng Việt 2006- Nhà xuất bản Đà Nẵng- Trung tâm từ điển học thì: “Giới là lớp người trong xã hội phân theo một đặc điểm rất chung nào đó, về nghề nghiệp, địa vị xã hội” [22, 405]. Theo định nghĩa của tác giả Lê Thị Chiêu Nghi trong cuốn “Giới và dự án phát triển”- Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh năm 2001 thì: “Giới bao gồm các mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong một môi trường xã hội cụ thể, hay nói cách khác, giới là sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong quan hệ xã hội” [13, 71]. Ngoài ra trong cuốn “ Xã hội học về giới và phát triển” – Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội năm 2000 của hai tác giả Lê Ngọc Hùng và Nguyễn Thị Mĩ Lộc thì :“Giới dùng để chỉ các đặc điểm, vị trí, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ. Hay nói cách khác, giới là khái niệm dùng để chỉ những đặc trưng xã hội của nam và nữ” [15, 6]. Như vậy, tuy các khái niệm trên có sự khác nhau về câu chữ trong cách diễn đạt nhưng nói chung, theo quan điểm xã hội học các tác giả đều cho rằng giới là khái niêm dùng để chỉ những sự khác biệt của nam và nữ trong các mối quan hệ xã hội.

Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, để thể hiện sự khác biệt về vị thế xã hội, vị thế trong các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh, khái niệm “đàn bà”, “đàn ông”, “trai”, “gái”, “nam”, “nữ” , “phụ nữ”, “nam giới” đã được sử dụng trong các bản Hiến pháp cũng như nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Lần đầu tiên khái niệm “Giới” được qui định tại Điều 5 khoản 1 Luật Bình đẳng giới: “Giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội”.

Có thể thấy khái niệm giới một phần bị quy định bởi các yếu tố, tiền đề sinh học của giới tính đồng thời không mang tính bẩm sinh, di truyền mà bị quy định bởi điều kiện và môi trường sống của cá nhân, được hình thành và phát triển qua hàng loạt các cơ chế bắt chước, học tập, ám thị. Giới có thể thay đổi dưới tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài, đặc biệt là về điều kiện xã hội. Mang tính đa dạng, phong phú cả về nội dung, hình thức và tính chất. Các đặc điểm giới thường bộc lộ qua suy nghĩ, tình cảm và hành vi của mỗi cá nhân, nhóm.

Dưới góc độ khoa học pháp lý, giới là các đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong các mối quan hệ xã hội, do đó giới có đặc điểm sau:

Thứ nhất, giới được hình thành từ các quan điểm, quan niệm xã hội chứ không tự nhiên sinh ra. Giới là sản phẩm của xã hội và hình thành trong môi trường xã hội. Ví dụ: từ khi sinh ra, trẻ nam đã được dạy dỗ theo quan niệm con trai thì phải mạnh mẽ, không được chơi búp bê, phải dũng cảm; con gái phải dịu dàng, phải giúp mẹ làm công việc nội trợ. Như vậy, sở dĩ phụ nữ thường làm nội trợ không phải vì họ là phụ nữ, mà vì họ đã được dạy bảo để làm việc đó từ khi còn nhỏ.

Thứ hai, giới có tính đa dạng. Ví dụ như phụ nữ ở các quốc gia Hồi giáo thường chỉ ở trong nhà làm công viêc nội trợ và phụ thuộc hoàn toàn vào nam giới, nhưng tại các quốc gia châu Á, phụ nữ lại đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất nông nghiệp và đảm đương nguồn thu nhập chính của gia đình. Tại các quốc gia phát triển phương Tây, phụ tham gia nhiều vào các hoạt động cộng đồng, tham gia quản lý kinh tế, hoạt động lãnh đạo.

Thứ ba, giới luôn thay đổi và vận động không ngừng theo thời gian và không gian. Điều kiện kinh tế - xã hội nào thì quy định sự khác biệt về giới trong xã hội đó. Khi điều kiện kinh tế- xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán, tôn giáo, đạo đức cũng như thể chế xã hội (bao gồm pháp luật, đường lối, chủ trương, chính sách) thay đổi (theo không gian và thời gian) thì quan hệ giới cũng được hình thành khác nhau. Ví dụ: trước đây, ở các nước phương Tây chỉ có nam giới mới tham gia công việc xã hội và làm công tác quản lý, còn phụ nữ ở nhà nội trợ, ngày nay nam giới và phụ nữ đều tham gia công tác xã hội và san sẻ công việc gia đình, làm nội trợ và chăm sóc con cái.

Thứ tư, giới nam (đặc điểm, vị trí, vai trò của nam trong quan hệ xã hội) và giới nữ (đặc điểm, vị trí, vai trò của nữ trong quan hệ xã hội) có thể thay đổi vai trò trong một quan hệ xã hội cụ thể. Ví dụ, trong gia đình phụ nữ thường đảm nhận công việc nội trợ nhưng nam giới cũng có thể giặt giũ, chăm sóc con cái và nấu ăn...; ngoài xã hội phụ nữ thường đóng vai trò là cấp dưới và là  người thừa hành nhưng phụ nữ cũng có thể giữ các cương vị như tổng thống, chủ tịch nước hay chủ tịch hội đồng quản trị.

1.1.2. Khái niệm giới tính và đặc điểm của giới tính

Theo từ điển Tiếng Việt 2006- Nhà xuất bản Đà Nẵng- Trung tâm từ điển học thì: “Giới tính là những đặc điểm chung phân biệt nam với nữ, giống đực với giống cái” [22, 405]. Theo quan điểm xã hội học trong cuốn “Xã hội học về giới và phát triển” của hai tác giả Lê Ngọc Hùng và Nguyễn Thị Mĩ Lộc, “Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội” [15, 6]. Với tác giả Lê Thị Chiêu Nghi trong cuốn “Giới và dự án phát triển” thì “giới tính là sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới về mặt y- sinh học” [13, 77].

Dưới góc độ khoa học pháp lý, khái niệm giới tính cũng lần đầu tiên được quy định cụ thể tại Điều 5 khoản 2 Luật Bình đẳng giới, theo đó: “Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ”.

Là khái niệm thể hiện đặc điểm sinh học của nam và nữ giới tính có những đặc điểm như sau:

Thứ nhất, bẩm sinh, có sẵn từ lúc lọt lòng (sinh ra đã là nam hay nữ);

Thứ hai, giới tính là sản phẩm của quá trình tiến hóa sinh học ở trình độ cao, do vậy các đặc trưng giới tính hầu như không phụ thuộc vào thời gian, không gian. Từ ngàn xưa đến nay, về mặt sinh học phụ nữ ở khắp nơi trên thế giới đều có đặc điểm sinh học đồng nhất và đối với nam giới cũng tương tự như vậy.

Thứ ba, giới tính có những biển hiện về thể chất có thể quan sát trong cấu tạo, giải phẫu, sinh lý người (giữa nam và nữ có những đặc điểm khác nhau về gen, cơ quan nội tiết, hoócmôn, cơ quan sinh dục…). Đồng thời, giới tính gắn liền với một số chức năng sinh học, đặc biệt là chức năng tái sản xuất con người. Ví dụ: nam giới có khả năng thụ thai còn phụ nữ có khả năng mang thai, đẻ con và cho con bú. Do đó giới không thể thay đổi, vận động.

Thứ tư, giới tính nam và giới tính nữ không thể thay đổi cho nhau trong một quan hệ xã hội cụ thể.

Chính những đặc điểm trên cho chúng ta thấy sự phân biệt giữa khái niệm giới với khái niệm giới tính. Sự phân biệt hai khái niệm “giới tính”“giới” nhằm phân biệt hai loại đặc điểm của phụ nữ và nam giới: một loại đặc điểm do yếu tố sinh học quy định - đặc điểm giới tính, loại đặc điểm thứ hai do quan niệm xã hội và sự phân công lao động xã hội tạo nên. Từ đó, muốn đạt đến vấn đề bình đẳng giới tức là bình đẳng xã hội giữa nam và nữ thì vấn đề không phải là thay đổi các đặc điểm về giới tính, mà cần phải thay đổi quan niệm về vị trí, vai trò của phụ nữ và nam giới cũng như thay đổi cách phân công lao động trong gia đình và xã hội.

Tải xuống để xem tài liệu hoàn chỉnh - Chia sẻ cho bạn bè nếu trang web có ích với bạn!
Nguồn tài liệu:

Bạn cũng có thể quan tâm:

Bài tập môn Luận văn - báo cáo lớp Đại học - cao đẳng
Mời bạn tham gia hỏi - đáp
Thư viện bài tập © 2014 -2017 - Liên hệ - Giới thiệu - Bản quyền - Chính sách bảo mật - Sitemap